Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Sốt rét gây hạ đường huyết nặng

Theo các nhà khoa học, hạ đường huyết là một biến chứng thường hay xảy ra và ngày càng được chú ý khi bệnh nhân bị mắc sốt rét do nhiễm Plasmodium falciparum - một loại ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ác tính khá phổ biến tại nước ta. Trong quá trình điều trị và theo dõi, cần quan tâm đến biến chứng này để phát hiện và có biện pháp xử trí phù hợp.
Ở những bệnh nhân sốt rét nhiễm loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum, biến chứng hạ đường huyết có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân thường gặp do hậu quả của việc điều trị khi sử dụng thuốc quinin vì chính thuốc này là yếu tố làm tăng hoạt các tế bào tụy tạng tiết ra nhiều nội tiết tố insulin gây hạ đường huyết. Một nguyên nhân cũng được ghi nhận là do sự tiêu thụ chất đường glucose của cả ký sinh trùng sốt rét bị nhiễm và cơ thể bệnh nhân đều có nhu cầu tăng lên trong cơn sốt rét do nhiễm Plasmodium falciparum; từ đó, sự chuyển hóa chất đường glucose sẽ nhanh hơn, sự hủy yếm khí glucose vượt quá ngưỡng lọc được của gan, tình trạng toan lactic phát sinh và bệnh lý trở thành nặng. Việc thiếu hụt chất glycogen hoặc không tân tạo được glycogen ở gan cũng là nguyên nhân gây biến chứng hạ đường huyết, trường hợp này, bệnh nhân bị hạ đường huyết nhưng lại giảm nội tiết tố insulin ở máu, đồng thời thường kèm theo tăng lactat và alanin; sự giảm tân tạo glycogen ở gan có thể do nhiễm toan lactic, nhiễm huyết nội độc tố và giảm cung cấp tưới máu cho gan; người bệnh không thể ăn được hoặc ăn rất ít.
Biến chứng hạ đường huyết
Biểu hiện của biến chứng hạ đường huyết được xác định khi xét nghiệm máu ghi nhận chỉ số đường huyết dưới 70mg/dl hoặc dưới 4mmol/l. Nếu chỉ số này dưới 50mg/dl hoặc dưới 2,7mmol/l thì gọi là hạ đường huyết nặng. Trên thực tế lâm sàng, biến chứng này thường xuất hiện trong 3 trường hợp:
Một là hạ đường huyết có liên quan đến việc sử dụng thuốc quinin trong điều trị sốt rét xảy ra khá phổ biến, hay gặp ở bệnh nhân mọi lứa tuổi kể cả nam lẫn nữ, đặc biệt là ở phụ nữ đang mang thai. Theo các nhà khoa học, loại thuốc này có khả năng làm tăng nội tiết tố insulin trong huyết tương dẫn đến hiện tượng hạ đường huyết.
Trong hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh đã lưu ý phụ nữ có thai khi mắc sốt rét ác tính có thể bị sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu và dẫn đến tử vong do ảnh hưởng bởi các biến chứng trầm trọng, trong đó có biến chứng hạ đường huyết. Ðiều cảnh báo này được nhấn mạnh là phụ nữ có thai hay bị hạ đường huyết, nhất là khi mắc sốt rét được điều trị bằng thuốc quinin; vì vậy, trong điều trị nên truyền kết hợp dung dịch glucose 10% và thường xuyên theo dõi chỉ số glucose máu để phát hiện sự bất thường. Trẻ em khi mắc sốt rét ác tính cũng dễ xảy ra biến chứng hạ đường huyết cùng với một số biến chứng trầm trọng khác nên cũng cần phải được quan tâm.
Hai là hạ đường huyết thường xảy ra ở bệnh nhân nữ đang có thai bị mắc bệnh sốt rét do nhiễm loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum. Dù người bệnh mắc sốt rét thể nặng hay thể nhẹ, thể thông thường hay thể sốt rét ác tính, có điều trị bằng thuốc quinin hay không đều có thể bị hạ đường huyết; có khi hiện tượng này xảy ra một cách tiềm tàng.
Ba là hạ đường huyết cũng hay gặp ở bệnh nhân mắc sốt rét nặng và sốt rét ác tính nhiều hơn ở bệnh nhân mắc sốt rét thể thông thường. Trên thực tế thường ghi nhận ở người bệnh bị sốt rét ác tính thể não, có biến chứng suy gan cấp, thiếu máu nặng, mật độ ký sinh trùng sốt rét cao, bị toan lactic. Trường hợp này xuất hiện ở bệnh nhi nhiều hơn người lớn.
Dấu hiệu sớm
Thực tế, dấu hiệu hạ đường huyết thường hay gặp ở bệnh nhân mắc bệnh sốt rét được điều trị bằng thuốc quinin với các biểu hiện triệu chứng bệnh lý kinh điển như nhức đầu, mờ mắt, ù tai, hồi hộp, thở dốc, mạch và tim đập nhanh, huyết áp hạ, gai rét, toát nhiều mồ hôi, cảm giác đói bụng; thậm chí bị lo âu, chóng mặt, ngất xỉu, vật vã, run rẩy, yếu sức, mệt mỏi, bại hoặc liệt chân tay, co giật cục bộ hay toàn thân, rối loạn định hướng, hôn mê, tăng trương lực cơ, phản xạ gân xương tăng, nghiệm pháp Babinski dương tính ở cả hai bên...
Trên lâm sàng, những dấu hiệu nêu trên dễ bị bỏ qua vì có nhiều điểm tương tự của bệnh lý sốt rét và sốt rét ác tính. Dấu hiệu hạ đường huyết trong sốt rét ác tính thể não khó phát hiện hơn sốt rét thể thông thường, vì vậy, có thể làm cho bệnh nặng thêm, bị hôn mê sâu hơn, mất phản xạ giác mạc, dễ xuất hiện triệu chứng co giật hơn so với sốt rét ác tính thể não không có biến chứng hạ đường huyết. Vì vậy, cần xét nghiệm chỉ số đường huyết trong máu của bệnh nhân sốt rét vào buổi sáng trước khi tiêm truyền thuốc, đặc biệt là quinin.
Những điều cảnh báo và cách xử trí
Như trên đã nêu, biến chứng hạ đường huyết thường dễ xảy ra ở đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai mắc sốt rét, đặc biệt là sốt rét ác tính do nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum. Nếu trường hợp có sử dụng thuốc quinin để điều trị can thiệp thì triệu chứng hạ đường huyết lại càng dễ xảy ra dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Có thể nói, hạ đường huyết là biến chứng phổ biến ở phụ nữ có thai mắc sốt rét ác tính thể não và thường gặp ở khoảng 50% các trường hợp được điều trị bằng thuốc quinin, có khi xuất hiện ngay trong lần tiêm truyền thuốc quinin đầu tiên. Các nhà khoa học cho rằng trong thai nghén, tế bào tụy tạng tăng đáp ứng với những chất kích thích tiết nội tiết tố insulin như quinin và triệu chứng hạ đường huyết thường khó phát hiện trên lâm sàng; đôi khi kèm theo dấu hiệu động thai, suy thai với tim thai chậm và yếu hoặc nhiễm toan lactic ở người mẹ. Phụ nữ mang thai bị mắc sốt rét trong quý 2 và quý 3 được điều trị bằng thuốc quinin cũng có thể bị hạ đường huyết với triệu chứng như nhịn đói kém, vã mồ hôi, bất tỉnh... cần được xác định rõ để phân biệt với sốt rét ác tính thể não.

Để xử trí biến chứng hạ đường huyết có hiệu quả, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể như: Duy trì chế độ ăn của bệnh nhân qua ống thông dạ dày liên tục hoặc chia ra làm nhiều bữa. Nếu có dấu hiệu hạ đường huyết hãy dùng máy đo đường huyết ngay lập tức nếu rõ thì tiêm tĩnh mạch chậm dung dịch glucose ưu trương 20% từ 30 - 50ml đối với người lớn, trẻ em dùng liều lượng 1 - 2ml/kg trọng lượng cơ thể. Sau đó truyền duy trì dung dịch glucose 10% liên tục trong 24 giờ; đặc biệt ở bệnh nhân có triệu chứng vàng da, suy gan cấp với liều lượng mỗi giờ từ 5 - 6g glucose để phòng tránh hiện tượng hạ đường huyết tái phát. Trái lại, nếu có tình trạng tăng chỉ số đường huyết trên 10mmol/l thì phải truyền nội tiết tố insulin tĩnh mạch liên tục với liều lượng thấp từ 1 - 2 đơn vị mỗi giờ để duy trì chỉ số đường huyết trong máu khoảng từ 8 - 10mmol/l.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Y học chưa tìm ra lời giải với 5 hiện tượng lạ về sức khỏe

1. Chữa nấc bằng mẹo lại hiệu quả?

Đến nay khoa học vẫn chưa chắc chắn vì sao con người ta lại bị nấc, hiện tượng rất đơn giản nhưng chứa đựng nhiều bí ẩn. Nấc cụt hay còn gọi ngắn là nấc, hoặc ách nghịch là những đợt co thắt đột ngột không tự chủ, ngắt quãng của cơ hoành mang tính lặp đi lặp lại, có thể do thì hít vào bị ngưng đột ngột, thanh môn bất ngờ đóng lại. Ở người, sự co thắt đẩy luồng khí đột ngột ra khỏi buồng phổi làm nắp thanh quản đóng lại và gây ra tiếng nấc.

Trong y học, nấc được gọi là chứng kích động cơ hoành đồng bộ (synchronous diaphragmatic flutter), chỉ diễn ra vài phút, nhưng cũng có trường hợp kéo dài nhiều giờ hoặc 1 - 2 ngày, thậm chí nhiều năm. Tuy nhiên, nấc lại không ảnh hưởng đến sức khỏe và đôi khi chỉ cần mẹo vặt cũng có thể rút ngắn thời gian nấc nhưng tác dụng không đồng nhất, người khỏi, kẻ không. Ví dụ như ăn một thìa đường hoặc nín thở cho đến khi hết nấc hoặc cũng có thể tăng hàm lượng carbon dioxide (CO2) trong máu cũng có tác dụng, nhưng người ta lại không hiểu được cơ chế này. Một số giải pháp khác tác động đến dây thần kinh phế vị giống như trong quá trình nín thở cũng có tác dụng tức thì, nhưng khoa học lại chưa nắm rõ điều gì đã tác động đến cơ hoành. Thậm chí, kéo tai hay nhấn vào huyệt mắt hoặc massage trực tràng, nhất là trường hợp nắc “cực đoan” cũng có tác dụng tức thì vì nó gây kích thích đến dây thần kinh phế vị.


2. Virút tồn tại ở dạng gì?

Câu hỏi virút hiện đang tổn tại ở dạng gì đang được xem vấn đề nan giải của khoa học, ở dạng sống, hoặc không phải dạng sống. Kể từ khi biết được sự tồn tại của virút, khoa học vẫn chưa xác định được virút tồn tại ra sao. Ban đầu, được xem là tồn tại ở dạng sống, vì khoa học coi virút là những sinh vật có thể lây lan và nhân lên. Tuy nhiên, sau thập niên 30 thế kỷ trước, nhóm chuyên gia Đại học Rockefeller, Mỹ, đã nghiên cứu phát hiện thấy những gì đang diễn ra bên trong một virút lại không có bất kỳ chức năng trao đổi chất nào nên được xếp vào dạng không còn sống.

Điều này chưa thỏa đáng vì sau đó nhóm đề tài lại tiếp tục nghiên cứu, phát hiện thấy virút có các thành phần quan trọng, đặc biệt là khả năng sinh sản. Nó không chỉ phát triển nhiều về số lượng mà còn tạo ra nhiều protein và các cấu trúc hóa học bên trong. Virút còn được biết đến là tổ chức vi sinh liên tục tiến hóa, tăng trưởng theo thời gian, tiếp tục quá trình khắc phục sự cố để hoàn thiện. Tất cả những điều này đều cho thấy virút đang sống, trừ các sinh vật không có khả năng tiến hóa.

Và một sự thật khác virút không thể thực hiện các quá trình bên ngoài một vật chủ sống, điều đó cho thấy virút vẫn đang hoạt động trên một cái gì đó để tồn tại hay duy trì dạng sống ký gửi, nhưng để tìm ra câu trả lời, khoa học vẫn chưa tìm thấy “điểm gỡ” cho vấn đề này.

3. Tại sao con người lại “già không đều”?

Mỗi ngày chúng ta phải đối phó với nhiều vấn đề liên quan đến tuổi già, tuy chậm nhưng chúng vẫn diễn ra thầm lặng, song con người lại không hiểu điều gì đã xảy ra với các tế bào khi có tuổi, như tổn hao cơ bắp, mô co cứng, và các tế bào mới trở nên ít hoạt hóa, hiệu quả trong việc hấp thụ dinh dưỡng cũng như thải độc, tất cả những điều này đều diễn ra với tần suất, tốc độ biến thiên. Có nhiều giả thiết, cho rằng quá trình lão hóa là một sản phẩm phụ của các chất thải trong cơ thể, hay do các yếu tố ngoại lai tác động như tia cực tím, ô nhiễm môi trường hay do ăn uống. Cũng có giả thiết cho rằng cơ thể con người được lập trình mang tính di truyền, quá trình này diễn ra nhanh chậm không liên quan đến các yếu tố bên ngoài. Đặc biệt, có cả ý kiến cho rằng sự lão hóa có tốc độ khác nhau, không đồng nhất. Nhìn vào cơ chế methyl hóa của tế bào mới thấy quá trình lão hóa mỗi lứa tuổi, tế bào lại có tốc độ già cỗi khác nhau. Ví dụ, ở phụ nữ, mô vú già hơn tới 3 tuổi so tuổi thực của con người, trong khi đó tế bào tim lại lão hóa chậm hơn, trẻ tới vài năm so với tuổi thực. Nhờ khoa học phát triển, hy vọng những gì liên quan đến lão hóa sớm muộn sẽ được con người giải mã.

4. Vì sao lại bị đau nửa đầu?

Chỉ có những người mắc chứng đau nửa đầu mới biết biết những gì họ đang phải chịu đựng và nó khởi phát ra sao. Đau nửa đầu là một dạng đặc biệt, không chỉ đau đớn mà nó còn gây những hiện tượng khó chịu như buồn nôn, nhạy cảm với các kích thích đau đớn, mắt mờ, thậm chí còn mất ý thức.

Đến nay rất nhiều bí ẩn liên quan đến căn bệnh này khoa học vẫn chưa hiểu hết, đặc biệt là nguyên nhân. Có người đau nhiều, người lại không. Một số người đau nửa đầu được kích hoạt bởi mọi thứ, từ thay đổi thời tiết, thay đổi ánh sáng mặt trời cho đến gắng sức hoặc có người lại do tiếp xúc với đồ ăn, thức uống, hoặc chất phụ gia có trong thực phẩm. Cũng có nhiều người rất nhạy cảm, nhưng khi tiếp xúc với các chất gây bệnh họ lại không bị đau đầu. Trong số những nguyên nhân chưa rõ, người ta tình nghi đến yếu tố di truyền, bởi đau nửa đầu có vẻ như tồn tại trong các gia đình. Cũng có giả thiết, người dễ bị đau nửa đầu thường có các bộ phận trong não nhạy cảm với các kích thích nhiều hơn so với những người khác. Nhưng đến nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu song vẫn chưa có kết luận thuyết phục.

5. Dị ứng đến và đi ra sao?

Sống với dị ứng quả là ác mộng, từ việc ăn kem, ăn lạc, tiếp xúc thú cưng, động vật cho đến uống sữa hay dùng thuốc chữa bệnh. Tần suất, mức độ cũng khác nhau, có người dị ứng tự đến rồi tự đi, có người lại bị trầm trọng, ảnh hưởng đến chất lường cuộc sống. Hầu như bất kỳ loại dị ứng nào đều có thể biến mất, tái xuất hiện, và ở một số người triệu chứng giảm và không mất đi hoàn toàn. Dị ứng lạc (đậu phộng) được xem là dị ứng nan y nhất, khoảng 20% những người bị dị ứng đậu phộng là trẻ em, trên 80% bị dị ứng với sữa và kéo dài đến hết giai đoạn tuổi teen, riêng nhóm người bị dị ứng với trứng thường trầm trọng hơn. Xét nghiệm máu có thể cho biết bị dị ứng tồn tại lâu hay mau. Thực tế, trẻ em ngày nay bị dị ứng nhiều hơn so với những thế hệ trước, đáng tiếc căn bệnh này đến nay khoa học vẫn chưa hiểu cặn kẽ.